29/40 Tô Vĩnh Diện, Hà Nội

Sự tinh tế trong nghệ thuật trà đạo của người Trung Quốc

Trung Quốc được biết đến là quốc gia khai sinh ra trà đạo, ở đây trà không chỉ là thức uống thanh nhiệt, dùng để chữa bệnh mà việc thưởng trà (uống trà) đối với người Trung Quốc còn là một nghệ thuật, là nét văn hóa ngàn năm lịch sử. Sự tinh tế trong nghệ thuật trà đạo của người Trung Quốc được biết đến chính là nghệ thuật trong cách pha trà, thưởng trà và sự kết hợp hài hòa giữa trà và Đạo.

Người Trung Quốc đã có lịch sử trồng chè cách đây hàng nghìn năm. Những vùng trồng chè nổi tiếng nhất là tỉnh: Giang Tô, An Huy, Hồ Nam, Triết Giang, Hà Nam, Giang Tây, Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Phúc Kiến, Quảng Đông, Vân Nam, Thiểm Tây…

Theo lịch sử ghi chép lại người Trung Quốc đã uống trà trong hơn 4000 năm lịch sử và trà được xếp trong danh sách 7 vật dụng thiết yếu không thể thiếu trong cuộc sống là “củi, gạo, dầu, muối, tương, dấm, trà”. Họ sử dụng trà để mời khách đến chơi nhà, coi đây là phong tục lễ nghĩa hiếu khách trọng tình, dù là ở nơi thành thị hay chốn thôn quê.

Các nhà nghiên cứu Trung Quốc cho rằng, nếu như Trà là văn hóa, thì pha trà và uống trà là một nghệ thuật. Từ những công đoạn pha trà đến thưởng trà, để có một ấm trà thơm ngon đúng điệu, “chuẩn vị” Trung Hoa không chỉ cần nguyên liệu tốt mà nó còn được kết hợp cùng với nghệ thuật pha trà độc đáo, tinh tế.

Có rất nhiều cách và công đoạn để pha một ấm trà. Đơn giản thì chỉ cần cho trà vào tách sau đó đổ nước sôi vào và chờ vài giây là có thể mang ra thưởng thức. Tuy nhiên, để có được một ấm trà “chuẩn vị” thì người pha trà cần phải có những công đoạn chuẩn bị kĩ lưỡng, chu đáo và dựa theo những quy định nghiêm ngặt và khắt khe.

Đầu tiên ở công đoạn chuẩn bị, cần phải chọn những lá trà khỏe, thơm ngon, tươi và không dập, héo hay nát. Tiếp theo là sơ chế và sao khô trên chảo nóng rồi đem hạ thổ. Người Trung Quốc giải thích rằng trà sau khi sao khô và được hạ thổ sẽ tiếp nhận được dương khí của đất trời. Đây chính là công đoạn để cân bằng âm khí và dương khí cho trà.

Nước dùng pha trà có thể sử dụng nước mưa, nước giếng hoặc nước suối. Theo người xưa trà chuẩn vị được pha bằng nước từ một mạch nước nhỏ chảy từ lòng núi chảy ra, hoặc họ sử dụng những giọt sương mai trên những cành hoa đọng lại mới có hương vị ngon lạ.

Ấm pha trà thường dùng bằng chất liệu gốm sứ (đất sét tráng men) để đảm bảo giữ được nhiệt cho trà khi pha. Bên cạnh đó, chất liệu này còn giữ nguyên vị thơm ngon cho trà.

Chén, tách dùng để uống trà thường là loại chén nhỏ vừa đủ để thưởng thức hết mà trà vẫn nóng. Người uống chỉ nhấp môi, nhâm nhi 1-2 hụm tận hưởng hương vị đậm đà của trà.

Lượng trà dùng để pha không nên dùng nhiều quá mà cũng không nên dùng ít quá. Nhiệt độ của nước pha trà phải căn cứ vào từng loại, có loại cần nước thật nóng nhưng có loại chỉ cần nước đủ ấm, có loại phải để ngấm mới uống nhưng cũng có loại không cần để ngấm lâu.

Nghệ thuật uống trà ở mỗi vùng, miền của Trung Quốc lại có cách thưởng trà khác nhau. Mỗi khu vực đều phản ánh lên nghệ thuật trà đạo riêng biệt. Người Bắc Kinh thích uống trà hoa nhài. Người Thượng Hải, Bắc Kinh lại thích uống trà xanh. Người dân Phúc Kiến uống trà đen và Người Hồ Nam lại uống trà gừng muối để tiếp khách…

Nghi lễ, cách thức uống trà mỗi địa phương lại có phong cách khác nhau. Người Bắc Kinh mời chén trà thì chúng ta sẽ phải đứng dậy để tiếp nhận và đỡ chén trà đó. Còn ở khu vực Quảng Đông, vị khách sẽ khum tay lại tiếp nhận ly trà sau đó gõ 3 tiếng lên bàn thay lời cảm ơn.

Không chỉ pha trà, uống trà, không gian thưởng trà cũng rất quan trọng. Thường người ta sẽ uống trà trong phòng kín hoặc ở hoa viên. Nếu là phòng kín thì trong phòng thường được treo tranh, thơ, câu đối, những bức họa thư pháp hay những lời dạy của cổ nhân. Và thường không thể thiếu một bức họa phong cảnh lớn. Phòng trà được trang trí rất tinh tế và trang nhã. Mang lại cảm giác hòa mình vào thiên nhiên nhưng không kém phần ấm cúng. Đặc biệt hơn trong phòng thường được bày một lư trầm, hương thơm lan tỏa khắp phòng, cùng với phong thái thưởng một chén trà ngon, giúp cho con người cảm nhận được sự thư thái và buông bỏ những mệt nhọc.

Nếu không gian thưởng trà là hoa viên, hay còn gọi là viên trà, thì lại hoàn toàn khác, người thưởng trà được ngồi giữa một hoa viên có nước, có hoa, có phong cảnh hữu tình. Trà lúc này không thể dịu nhẹ như trà dùng nơi thư phòng, ấm trà ở đây thường là đặc hơn, giữ nhiệt tốt hơn.

Thưởng trà của người Trung Quốc xưa không đơn giản là uống trà, mà còn là một nét tinh tế, cảm nhận từng vị của trà, nhâm nhi chén trà trong không gian non nước hữu tình để suy ngẫm về chuyện đời, chuyện người, bình phẩm về một tác phẩm hội họa, đàm thoại đôi điều về lời dạy của cổ nhân, đôi khi tức cảnh sinh tình mà đưa ra câu đối, hoặc ngẫu hướng mà nghe đàn tì bà hay cổ cầm. Chính vì những lẽ đó mà thưởng trà tại Trung Quốc được nâng lên sự tinh tế tuyệt vời của nghệ thuật, tao nhã đến thanh khiết.

Bên cạnh việc coi trà là một trong các thực phẩm thiết yếu trong đời sống hàng ngày và thưởng trà như một nghệ thuật thì Trà còn có ý nghĩa về Trà đạo với hàm nghĩa là một nghệ thuật “Trung gian”, lấy trà làm phương tiện truyền đạt, kế thừa tinh thần của văn hóa truyền thống Trung Hoa. Dùng trà có thể hành Đạo, dùng trà có thể đạt được chí khí thanh cao. Đó là: Trà lễ, trà quy, trà pháp, trà kỹ, trà nghệ, trà tâm hay còn gọi là “trà đạo lục sự”.

Không chỉ là ngồi uống trà và đàm đạo, Trà đạo còn yêu cầu cả ở cái tâm, tâm nhất quán cùng thưởng trà. Chính vì vậy, trà Đạo đòi hỏi khá phức tạp từ khâu chuẩn bị dụng cụ tới cách pha chế, hay tâm tính của người pha chế trà. Đó là sự kết hợp nhiều công đoạn khác như rửa trà, tráng ly, lọc trà rồi rót trà. Mùi cũng như hương vị của trà sẽ quyết định tất cả, đó là điều quan trọng nhất để người thưởng trà có thể đánh giá một tách trà có ngon hay không ngon.

Trà Đạo quan trọng nhất là tu tâm dưỡng tính, từ vị đắng của trà mà nhìn thấu được nhân sinh, hiểu được rằng con người sinh ra không phải là hưởng phúc, mà chính là chịu khổ mà hành thiện. Sau vị đắng của trà sẽ cảm nhận được vị ngọt nơi cổ họng, đó chính là gian khổ trong tu luyện đã qua đi, tư tưởng từng ngày thăng hoa đề cao.

Ngoài ra trà Đạo còn được dùng trong điều trị bệnh. Trà có vị đắng, nhưng lại là đắng có ý vị. Trong Y học cổ truyền Trung Hoa, đắng bổ tâm, tức là vị đắng của trà là bổ tim huyết. Theo tập quán của người Trung Quốc, mùa lạnh nhiệt độ hạ xuống sâu, buộc họ phải ăn nhiều đồ cay nóng và ăn nhiều dầu mỡ, dùng trà để cân bằng lại âm dương cơ thể, mùa hè lại nắng nóng khắc nghiệt, nên bào chế ra nhiều loại trà thảo mộc làm mát cơ thể. Đặc tính của trà là đắng, trà đắng mang tính hàn nên rất tốt khi dùng để kháng lại tính hỏa, nhờ vậy bệnh tật có thể được thanh trừ./.